Trong con mắt đứa bé ở quê ra, Hải Phòng những năm sau 1975, cái gì cũng lạ. Nhà 5 tầng mới xây, bên cạnh dãy nhà lợp giấy dầu, tưởng cao tận mây. Con phố dài dọc sông tưởng đi không bao giờ hết. Còn người thì sợ, chỉ biết đứng nhìn. Rồi dần lớn lên, mình bớt sợ người, sợ phố. Là thành phố công nghiệp, có nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, xi măng Hải Phòng, Sở Dầu, nhựa Tiền Phong, thảm len Hàng Kênh…, nên Hải Phòng có nhiều công nhân, sáng đi làm mang theo cặp lồng cơm, chiều tan ca đông đúc lắm. Thành phố có nhiều người lao động tự do, buôn bán vỉa hè, người ta ngầu vãi đạn từ lời nói và dáng vẻ. Quán nước đầu ngõ, nơi bán chè chát, phong thuốc lá, điếu thuốc lào, vài lọ kẹo lạc… là cả một thế giới thu nhỏ của người bình dân. Mùa đông là cốc trà nóng, vê thuốc lào, mùa hè là cốc trà đá là đủ mọi chuyện trên giời dưới biển, chuyện mưu sinh hàng ngày. Người Hải Phòng ăn to nói lớn, thô ráp ngang tàng mà chân tình, cứ ra quán nước là thấy hết chất chơi, chất đời. Quán nước là một điển hình của văn hoá thị dân ở Hải Phòng. Nhưng thỉnh thoảng mình vẫn thấy vài người đàn ông đứng tuổi, ra đường đội mũ phớt, chống gậy ba toong, những người từ thời Pháp thuộc còn sót lại chăng? Họ như là một thế giới khác, khác xa với số đông người lao động, nhưng vẫn là một phần của thành phố này. Lúc đi học, khi đa số chúng mình ăn vận giống nhau, mùa hè áo quần xoăn lò so, dép lê quèn quẹt mòn gót, mùa đông tím tái vì mặc không đủ ấm thì vẫn có bạn mùa đông mặc áo dạ, mùa hè váy ngang gối như một cô nàng tiểu thư trong tiểu thuyết Pháp. Ngày ấy, ở khu tập thể nhà mình có một cô tên Loan, tóc uốn phi- dê, đi guốc cao gót, miệng lúc nào cũng khoe nhà gốc tư sản. Mình chẳng biết gốc tư sản là sao nhưng tay cô ấy trắng trẻo, mịn màng, khác hẳn bàn tay chai sần của mẹ. Mình mơ hồ nhận ra đa số là những người “cùng khổ”(khổ giống nhau, cùng nhau khổ) thì vẫn có những người không cùng khổ. Họ không nấu bằng bếp than tổ ong hay bếp mùn cưa, cũng không cố cơi nới cái bếp chật để có thêm chỗ nuôi lợn mà mùi cám lợn và phân lợn có thể ám cả căn nhà chật chội mùa hè nồng nực. Hải Phòng có nhiều người giàu vì giỏi kinh doanh buôn bán. Họ nhanh nhẹn, tháo vát, giỏi tính toán, đầu óc thực tế. Thế cũng đủ để họ có cuộc sống sung túc hơn người. Ở phố Cầu Đất có gia đình ông bà Như Ý, dòng dõi thuộc hàng con cháu chủ hãng nước mắm Vạn Vân nổi tiếng từ đầu thế kỉ. Ông tóc bạc phơ, nụ cười hào sảng, vẫn điều hành việc làm ăn buôn bán của con cháu đến cuối đời. Rất tiếc đến đời sau, không ai thừa hưởng được trí tuệ và phong thái của ông nữa.
Ngày ấy, mình còn được gặp một lớp người khác. Bác Lê Trường, bác Nghĩa, bác Thể… giờ đây đã đi xa rồi, những người bác nho nhã, lịch thiệp, vẫn dành sự trìu mến, ấm áp cho một đứa trẻ như mình mỗi khi đến nhà chơi với bố vào cuối tuần. Những con người như thế, họ đã co mình lại để sống, khiêm nhường và lặng lẽ vượt qua những thách đố của thời cuộc để giữ cho mình cốt cách tự trọng của người trí thức mà không một lời mỉa mai, cay đắng. Hoặc có những nỗi buồn thẳm sâu, họ đã giấu kín vào trong. Có lẽ trong những tháng ngày nghèo khổ xám xịt ấy, con người và mối quan hệ con người tử tế, ấm áp đó như một vùng trời đẹp đẽ mình đã may mắn nhìn thấy.
Hải Phòng còn là nơi sinh sống nhiều đời của cộng đồng người Hoa. Vài lần, mình được bố mẹ cho đến chơi nhà một người Hoa bên phố Phan Bội Châu. Bác tên Mai, thường gọi là Mùi, có dây mơ rễ má gì đó với nhà mình ở quê, sau ra Hải Phòng gặp lại. Bác lấy chồng Trung Quốc nhưng ấn tượng của mình lúc ấy bác thực sự là một người đàn bà Tàu. Vóc dáng cao ráo, tóc cắt ngắn, mặc áo cổ Tàu nút bạc, tiếng Việt lơ lớ, giọng nói đầy quyền uy, tay lúc nào cũng cầm tẩu thuốc. Mỗi lần đặt chân lên cầu thang bằng gỗ lim là một lần tim mình thót lại, hồi hộp như sắp bước vào một thế giới xa lạ huyền bí. Trong nhà, họ chỉ nói tiếng Hoa với nhau. Mỗi lần đến, bác đều bảo người làm dọn ra nhiều món ăn Tàu mình chưa từng ăn bao giờ, đến cái bát cái chén mình cũng chưa thấy bao giờ. Năm 79, khi mấy đứa trẻ chúng mình đến trường phải mang theo túi cứu thương thì cũng là lúc người Hoa lần lượt bỏ Hải Phòng ra đi lặng lẽ, gia đình bác Mùi cũng vậy, thương lắm. Từ ấy gia đình mình cũng bặt tin tức về bác Mùi và anh A Kiên, những con người hiền lành, tử tế và nồng hậu.
Hải Phòng, là nơi đa dạng văn hoá. Vùng cửa biển vốn cởi mở với người, người bản địa, người tứ xứ, người Pháp, người Hoa nữa. Đấy là lý do ngoài các món ăn đậm đà chất miền biển như bún cá cay, bánh đa cua, nem cua bể, giá bể… thì Hải Phòng còn nổi tiếng với bánh mì pate, hay những món nghe tên chỉ người Hải Phòng mới biết: bánh đúc tàu, chí chương, ca la thầu, xì lùng cấu… Bánh mì cay Hải Phòng có phải là sự kết hợp ẩm thực Việt-Pháp-Hoa không nhỉ?
Gần đây, mình có dịp sống chậm. Mỗi sáng, mỗi tối đi dọc dải vườn hoa trung tâm mà nghĩ dưới chân mình từng là kênh đào Bonnal kéo dài từ cảng ra cửa sông Cấm. Quảng trường Nhà hát lớn bây giờ giống cái sân kho hợp tác hơn nhưng vẫn nhắc mình Hải Phòng là 1 trong 3 đô thị lớn nhất Việt Nam. Người Pháp đã xây dựng ở nơi này nhiều công trình sớm nhất và lớn nhất Đông Dương: 1890 có Nhà máy đóng tàu, sửa chữa tàu biển đầu tiên ở Đông Dương, Nhà máy điện Cửa Cấm (1892) đầu tiên ở Đông Dương, Nhà đèn Vườn hoa (1894) là nhà máy phát điện đầu tiên ở Đông Dương, Hải đăng Hòn Dấu (1898) lâu đời nhất Đông Dương, Nhà máy xi măng (1899) là nhà máy xi măng đầu tiên ở Đông Dương, Đài thiên văn Phù Liễn (1900) nơi khởi nguồn của ngành khí tượng thuỷ văn Việt Nam, Nhà hát lớn (1900) xây còn sớm hơn nhà hát lớn Hà Nội. Sĩ ghê chưa! Vì vậy mỗi bước đi trên vùng đất này đều thấy dấu ấn thời gian. Hồn một vùng đất tạo nên từ con người, nếp sống và kiến trúc không gian. Hải Phòng chừng hai chục năm trước từng ngủ im, buồn vắng. Nhưng cũng chính vì thế, Hải Phòng lại có may mắn là không bị phá vỡ quy hoạch đô thị trung tâm mà người Pháp đã định hình từ đầu thế kỉ trước. Không chỉ người Pháp đã mang cây phượng từ Madagasca đến trồng ở Hải Phòng mà người Pháp đã mang tư duy kiến trúc châu Âu để quy hoạch nên đô thị này. Kênh đào Bonnal đã chia Hải Phòng thành 3 khu. Khu người Pháp sống và làm việc ( khu nhượng địa Pháp) chính là quận Hồng Bàng bây giờ, kéo dài từ chân cầu Lạc Long đến hết đường Trần Hưng Đạo, nơi có ngân hàng Đông Dương, ngân hàng Pháp- Hoa ( bây giờ là Bảo tàng thành phố), toà Đốc lý trên đường Hoàng Diệu, nhà đồng hồ Ba Chuông, bưu điện thành phố, nhà băng Năm Sao… Nếu bạn xem bức ảnh đại lộ Paul Bert, con đường đẹp nhất Hải Phòng lúc ấy, bạn sẽ nghĩ nó lộng lẫy và sang trọng không kém đại lộ ở Paris chứ không phải đường Điện Biên Phủ ngày nay. Hải Phòng có tới 300 biệt thự kiến trúc Pháp, trong đó có tới 100 biệt thự xứng đáng được bảo tồn. Tiếc rằng, chỉ có một số công trình được chăm sóc tốt như Bưu điện, nhà ga, nhà hát, toà thị chính, toà án, trường Ngô Quyền. Rất nhiều biệt thự xinh đẹp đã bị bỏ rơi, lẻ loi tàn phai trong nhịp điệu của phố phường chật chội. Đa số các toà nhà được sửa chữa sơ sài, chắp vá lộn xộn, cũ mới đan xen. Thương nhất là các nhà biệt thự giờ đây toàn “được” lợp mái tôn và nhiều ban công “được” dùng để phơi quần áo. Ôi thời gian, với chiến tranh tàn phá, cái nghèo kéo dài, tư duy tiểu nông ngắn hạn và quản lý lỏng lẻo đã biến bao di sản thành tàn tạ. Gần đây, Phê La đường Lương Khánh Thiện, Quán 1986 đường Hồ Xuân Hương, Le Jardin số 7 Trần Hưng Đạo… đã níu và giữ được ít nhiều vẻ đẹp hào hoa cổ điển của kiến trúc thuộc địa. Nhưng có còn nhiều những cố gắng như vậy nữa không?
Khu người Hoa Hải Phòng nhìn từ trên cao giống như một chiếc boomerang, 2 cạnh là đường Hoàng Văn Thụ và đường Quang Trung dọc hồ Tam Bạc, cạnh còn lại lõm sâu ôm lấy bờ cong của sông Tam Bạc. Người Hoa vốn giỏi giao thương buôn bán, đây đã từng là khu vực buôn bán sầm uất, trên bến dưới thuyền, hàng hoá theo đường thuỷ mà lên chợ Sắt, chợ Đổ rồi từ đó toả đi muôn nơi. Nhà ống ở phố Lý Thường Kiệt rất thú vị: nhà 2 mặt phố thông nhau, mặt này là phố Lý Thường Kiệt, mặt kia quay ra sông Tam Bạc, buôn bán hữu dụng vô cùng. Xem bức ảnh tư liệu chụp phố Đông Kinh ( phố Phan Bội Châu bây giờ) với những cửa hàng cửa hiệu san sát, mái lợp ngói âm dương, mình cứ ngỡ đường phố Thượng Hải những năm 30. Mình đã đi bộ khắp các con phố, cố gắng tìm kiếm hình ảnh của con phố người Hoa xưa, mà gần như thất vọng. Cả hồn phố và con người đã tiêu tan hết cả. Nhà mới, người mới, chỉ còn lại một vài căn giữ kiến trúc cũ, nhưng đã nhếch nhác quá rồi.
Hải Phòng không như một số đô thị khác có vài trăm năm tuổi. Trước khi người Pháp tới, nơi này chỉ có 2 làng người Việt là An Biên và Gia Viên ( lõi của quận Lê Chân và Ngô Quyền bây giờ). Vì vậy khi quy hoạch đô thị, người Việt chúng ta ở bên bờ kia của kênh Bonnal: ở đó hình thành nhà phố Việt pha trộn kiến trúc Pháp. Bây giờ đi trên các con phố chính như
Cầu Đất, Nguyễn Đức Cảnh, Cát Dài, Tô Hiệu… còn rải rác những căn nhà xưa, khoác màu áo cũ, bị đè lên những biển hiệu mới. Nhiều nhà cao tầng mọc lên, âu cũng là quy luật tất yếu, chỉ tiếc rằng cái cũ hầu chỉ còn chờ ngày đập bỏ chứ không còn được giữ gìn để viết tiếp câu chuyện một thời nữa. Giờ đây, thời gian với tên đất, tên người chỉ còn được lưu lại ở những cái tên ngõ: Sơn Hà, Sơn Lâm, Lý Tiêm, Lý Phình, Tây đen, Tê A, Trí Tri, Đào Kí, Đồng Lùn hay ngõ Đất Đỏ, Lửa Hồng, Hàng Gà, Chè chai… Chẳng biết những người trẻ có bao giờ tìm hiểu tên ngõ ông bà mình từng sống, hay mình từng đi qua hay không?
Công bằng mà nói, thành phố mấy năm gần đây, đang sống dậy, tươi đẹp lên rất nhiều. Bà con thì xây dựng nhà cửa khang trang, thành phố thì chỉnh trang đô thị, nhiều không gian cây xanh. Những cái tên từng là xóm lao động nghèo như đường tàu, Lán Bè, Trại Chuối… đều sạch sẽ, khang trang. Trong kỉ nguyên vặn mình vươn ra tứ phía, nhiều đô thị hiện đại đang hình thành. Khu đô thị trung tâm sẽ trở thành khu phố cũ, nơi người dân vẫn lựa chọn sự thân thuộc, tiện lợi. Chỉ nơi ấy mới có hơi ấm đời sống, có câu chuyện thời gian để trải nghiệm sự đa dạng văn hoá. Những đô thị mới dù có mới mẻ, hiện đại thì vẫn mang chung một khuôn mặt đồng nhất và đơn điệu. Người du lịch tới Hải Phòng, lẽ nào cứ kéo ra Đồ Sơn hay Cát Bà để khoe thiên nhiên tuyệt vời. Nếu người ta muốn trải nghiệm đời sống đô thị, chả lẽ lại sang đảo Vũ Yên? Kiến trúc cũ, không gian đô thị cũ đã và đang dần thành di sản, có ai có thể quan tâm, tôn tạo và giữ gìn? Mình đã tới một số khu phố cổ, làng cổ trên thế giới. Cái quan trọng không phải nơi ấy có bề dày 100 tuổi hay 1000 tuổi, kiến trúc đẹp lạ hay đơn giản mà là đem đến cho du khách câu chuyện về thời gian, về không gian văn hoá, một cảm xúc nhất quán. Hải Phòng làm được mà, nếu như… Thực sự buồn và tiếc nuối.
Mình muốn chia sẻ những cảm xúc của mình thôi, chứ mình biết… chỉ để gió cuốn đi…
Mấy hôm nay, mấy cây bàng, cây bằng lăng đã đâm chồi, hoa ban, hoa gạo đã nở. Đang chờ đón mùa hoa phượng vĩ sắp rực rỡ. Giá như mọi thứ như quy luật của thiên nhiên: “Thiên nhiên không hối hả, nhưng mọi thứ đều hoàn thành”.
Hải Phòng, tháng Ba năm 2026.


Leave a comment